(64A) Trời định miền Nam thua cuộc chiến để dân-tộc có thể vươn lên (Kỳ 4)


Tóm-tắt nội-dung
(bài gồm khoảng 12 ngàn chữ)

Việc miền Nam bị mất vào tay Việt Cộng vào ngày 30/04/1975 dẫn đến việc hàng triệu người vượt biên. Lương tâm người Mỹ áy náy vì đã bỏ rơi miền Nam khi miền Bắc xé hiệp định Paris, do đó mới kêu gọi các quốc-gia phương Tây nhận người tỵ nạn.

Lịch-sử Việt Nam đầy-dẫy những cuộc đấu-tranh, trong đó chánh thắng tà cũng có, mà tà thắng chánh cũng có. Tuy-nhiên, sự thành, bại thật ra không có tính-cách may rủi như người ta thường nghĩ, mà tất cả đều đã được định trong Thiên-cơ ("Divine Plan"). Việc miền Nam thảm-bại và những hậu-quả của nó, tuy đầy-dẫy những nỗi đau-thương, nhưng nhờ người Mỹ và đồng-minh cứu-giúp mà một tiền-đồ xán-lạn đã mở ra cho dân-tộc Việt Nam, mà chưa ai từng mơ-ước tới. Điều này đã không xảy ra được, nếu không có sự sắp-đặt của Thiên-cơ.



Một chiếc ghe dài khoảng 10 mét, chở 35 thuyền-nhân, được tàu chiến Mỹ USS Blue Ridge (LCC19) cứu cách vịnh Cam Ranh khoảng 560 km về phía Đông-bắc, sau khi họ đã trôi-dạt 8 ngày trên biển.




Những thuyền-nhân đang nằm mê-man trên ghe, khi chiếc tàu tuần-dương-hạm của Mỹ USS Fox (CG-33) đến cứu



Xin độc-giả lưu-ý:
Sau khi nhấn vào một cái link để xem một đoạn văn bên trong bài viết (thí-dụ như "xem phần A.1", "xem phần B.2", v.v...), nếu muốn trở lại chỗ cũ, độc-giả chỉ cần nhấn vào nút "Back" hoặc mũi tên chỉ qua bên trái của browser.

Mục-lục bài Kỳ 4
(Trong phần Mục-lục, mỗi một câu đều là một cái link)




H. Bôn-ba chẳng qua thời-vận


H.1 Con cháu của những người thua cuộc vươn lên ở thế-giới phương Tây:

H.1(a) Thành, bại là do Cơ Trời:

Thế-hệ thứ nhất của cuộc chiến của dân miền Nam đã chiến-đấu, thua và phải ra đi. Lẽ dĩ nhiên, thắng bại là chuyện thường của nhà binh, hễ thua keo này thì bày keo khác, thế-hệ trước ngã xuống, thì thế-hệ sau tiến lên thôi. Thí-dụ những cuộc khởi-nghĩa của người Giao Chỉ chống lại sự đô-hộ của các triều-đại bên Tàu (gồm cả triều-đại của Việt-tộc như là nhà Hán của Lưu Bang và triều-đại của Hán-tộc như là nhà Đường của Lý Thế Dân) có khi thắng, có khi bại, nhưng cuối cùng thì cũng chiến-thắng và Việt Nam trở thành một nước độc-lập vào năm 938 (xem bài "Ngô Quyền" trên Wiki).

Thành, bại là do Cơ Trời (Thiên 天 Cơ 機, chữ "cơ 機" được hiểu như chữ "cơ" trong chữ kép "quân 軍 cơ 機 " (kế-hoạch hành-quân); tiếng Anh là Divine Plan, nghĩa là Kế-hoạch của Thiêng-liêng). Tuy nhiên, trí-tuệ của Thượng-đế quá cao-siêu và bao-la, do đó loài người chúng ta chỉ có thể hiểu được Thiên-cơ qua những sự diễn-giải của bậc thần-thánh như là Đức Phật, Đức Chúa (Christ, một vị Phật sắp đến thế-gian, chứ không phải Chân-sư Jesus), các vị Chân-sư (Masters of Wisdom), A-la-hán (Arhat), v. v... (xem quyển "Initiation-Human-and-Solar" và những quyển khác của Alice Bailey qua trang web của lucistrust.org). Thiên-cơ là sự thể-hiện của luật Tiến-hóa do Thượng-đế tạo ra để làm cho vạn-vật tiến-bộ. Luật Tiến-hóa làm việc qua một cái luật phụ được gọi là luật Nhân-quả (Law of Karma). Luật này lại làm việc qua một cái luật phụ của nó, được gọi là luật Luân-hồi (Law of Reincarnation). Luật Luân-hồi còn có một cái tên khác nữa là luật Tái-sanh (Law of Rebirth).

Tuy sự thể-hiện của Thiên-cơ trên cõi trần rất phức-tạp, nhưng, cho mục-đích của bài viết này, có thể tóm-tắt được trong một câu: "Tất-cả sự bất-công trên cõi đời này đều tuyệt-đối là sự công-bình, và sự đau-khổ là phương-tiện giúp người ta tiến-bộ."


H.1(b) Thánh-nhân đãi kẻ khù-khờ:

Nếu người nào có một sự hiểu-biết nho-nhỏ về Thiên-cơ, có thể dễ-dàng thấy rằng Trời đã cho dân tộc Việt Nam một món quà lớn mà không ai dám mơ-tưởng. Đó là khoảng 2 triệu người đã được định cư ở các nước phương Tây, rồi từ đó con cháu vươn lên. Có những người tị nạn chỉ là binh nhất, binh nhì, nhưng con-cái họ đỗ-đạt Tiến sĩ, kỹ sư. Nếu miền Nam không bại trận, không ai đi vượt biên, thì con cái được sinh ra ở Việt Nam sẽ không có điều-kiện để học lên cao, vì cha mẹ nghèo và không đủ tiền cho con ăn-học. Sự việc hàng triệu người Việt được các quốc-gia phương Tây đón nhận chẳng khác nào hàng triệu người (gồm cả cha mẹ lẫn con cái) được đi du học cùng một lúc. Trong khi đó, ngày xưa, mỗi năm chánh-phủ Việt Nam Cộng Hòa chỉ có thể cho vài ngàn sinh-viên ưu-tú ra nước ngoài du học, mà trong đó phần lớn thuộc gia-đình khá-giả và tự bỏ tiền ra trang-trải mọi chi-phí. Ngày nay, do những mối quan-hệ gia-đình với những người đã vượt biên, những học sinh nghèo ở Việt Nam cũng có cơ hội đi du-học. Do đó, tiền-đồ xán-lạn của dân-tộc vào lúc này khó mà hình-dung được.



Thuyền-nhân Việt Nam tại đảo Pulau Bidong, tỉnh Trengannu (nay được gọi là Terengganu), Mã Lai.



Chú-thích của Nguyễn Văn Huy:

Theo trang 54 của quyển "Okina Kyūin and the Politics of Early Japanese Immigration to the United States, 1868–1924" của Ikuko Torimoto, xuất-bản ngày 31/01/2017 bởi McFarland, số lượng sinh-viên Nhật được chánh-phủ Nhật gởi đi học ở các nước phương Tây, từ năm 1875-1912 (thời Minh Trị Thiên-hoàng) là 683 người. Nhờ những người đó, cộng thêm khoảng 3000 chuyên-viên Tây-phương được chánh-phủ Nhật mướn để làm việc và thêm vài ngàn người làm việc cho các công-ty tư-nhân (xem bài "Foreign government advisors in Meiji Japan" trên Wiki), mà nước Nhật đã trở thành một cường-quốc Á-châu và đánh bại Nga trong trận hải-chiến ở eo biển Đối Mã vào năm 1905 (xem bài Hải chiến Tsushima trên Wiki).



Trang 54, "Okina Kyūin and the Politics of Early Japanese Immigration to the United States, 1868–1924"



Con số trẻ em của người Việt tỵ-nạn sống, học và làm việc ở ngoại-quốc, so với cộng-đồng 3 triệu người, nằm ngoài sự ước mơ của những dân-tộc Á-châu khác. Trong khi chế-độ Cộng-sản chỉ gây ra sự suy-tàn và lụn-bại, thì vài triệu người Việt định-cư ở các nước phương Tây (và còn đang tiếp-tục tăng lên) lại là một nhân-tố quan-trọng có khả-năng bảo-đảm một tương-lai đầy hứa-hẹn cho dân-tộc Việt Nam.

Nhạc-sĩ Trầm Tử Thiêng (1937 - 2000) cũng nhìn thấy một tương-lai tốt đẹp như vậy và diễn-tả bằng những từ-ngữ của một thi-sĩ qua những điệu nhạc tuyệt-vời trong bản nhạc "Hành-trình tìm tự-do".






Xin trích lại lời bài hát "Hành Trình Tìm Tự Do ở nửa bài sau:

"Những gian khó này,
Sẽ thành lửa nung trái tim.
Những đôi mắt buồn,
Sẽ nhìn đời tươi sáng hơn.

Như bầy chim tung cánh đi mọi miền,
Đời tha-hương sống quên ưu-phiền,
Người Việt Nam bước theo ước-nguyền.

Trong tình thương thế-giới cho con nguời,
Tình yêu-thương trái tim nhân-loại,
Người Việt Nam tiến lên ngày nay.

Đây người sinh viên tiến nơi học đường,
Cùng đem tim-óc đi xây dựng,
Thành-công vang khắp nơi lẫy-lừng

Đây bàn chân đi nối con đường dài,
Mồ hôi chăm tưới cho cuộc đời,
Chờ ngày vun-xới quê Việt Nam.

Những đêm tối vừa thắm lại ngàn tia nắng mai.
Những tan-vỡ vừa cấy lại niềm tin khắp nơi.
Ước mơ chính bàn tay này, bàn tay chúng ta,
Góp xây đắp lại nước Việt tự-do, ấm-no".

Trầm Tử Thiêng là một trong những nhạc-sĩ gạo-cội ở miền Nam trong thời chiến-tranh. Tuy-nhiên, chỉ sau khi vượt biên qua Mỹ, ảnh mới sáng-tác những bài hát có tầm nhìn chính-trị và nghệ-thuật cao hơn, như hai bài "Hành-trình tìm tự-do""Một ngày Việt Nam". Trong thời chiến-tranh Việt Nam, ảnh vẫn còn loay-hoay với những bài hát về tình yêu nam-nữ. Lẽ dĩ nhiên, chẳng có gì sai trong việc đó, nhưng vì chiến-tranh có liên-quan đến sự sinh-tồn của một dân-tộc, do đó một người nhạc-sĩ, nhất là nhạc-sĩ người miền Trung, cần phải hiến dâng toàn-bộ năng-lực cho việc sáng-tác giúp nêu cao chính-nghĩa và sự thật. Do đó, sự chuyển-biến trong tâm-tư của Trầm Tử Thiêng là kết-quả của những sự đau-khổ của người thua cuộc; và cao hơn nữa, đó là kết-quả tất-nhiên của chiến-tranh trong Thiên-cơ. Xin nhắc lại một câu nhàm-chán của Nguyễn Văn Huy trong phần phần "H.1(a) Thành, bại là do Cơ Trời" ở trên: "Tất-cả sự bất-công trên cõi đời này đều tuyệt-đối là sự công-bình, và sự đau-khổ là phương-tiện giúp người ta tiến-bộ."


H.2 Vài chu-kỳ trong Thiên-cơ:

H.2(a) Chu-kỳ 30 năm là đơn-vị tính căn-bản:

Lịch-sử của dân-tộc Việt Nam và các dân-tộc khác trên thế-giới đầy-dẫy những biến-cố chính-trị (thí-dụ như chiến-tranh), mà đơn-vị tính là khoảng 30 năm (sai-số là +1.5 năm hoặc -1.5 năm). Điều đó nghĩa là những chuỗi biến-cố kéo dài tới 30 năm, hoặc ít hơn một chút hoặc nhiều hơn một chút, thì vẫn thuộc về một đơn-vị. Con số 30 năm là tổng-số của ba cái vận nhỏ, mà mỗi cái như vậy gồm 10 năm.

Chú-thích của Nguyễn Văn Huy:

Tiếng "vận 運" do tiếng "vần" hoặc "vòng" đọc trại ra, có nghĩa là xoay vòng-vòng, xoay vòng tròn. Chữ 'xa 車" nằm trong chữ "vận 運" là hình-ảnh của cái thùng xe, trục bánh xe và hai cái bánh xe hai bên (còn con ngựa tưởng-tượng sẽ đứng ở đâu đó bên phải hoặc bên trái chữ 'xa 車"). Ý-nghĩa của chữ "vận 運" đặt trên sự xoay vòng của hai cái bánh xe.


Vận-mạng của từng cá-nhân trong nhóm không nhất-thiết phải đi đôi với vận-mạng của cả nhóm (thí-dụ như sau khi Nguyễn Huệ chết vào năm 1792, nhóm Tây Sơn vẫn còn tồn-tại thêm 10 năm), nhưng tất-cả đều bị chi-phối bởi con số 30 năm. Đời người gồm những chu-kỳ 30 năm nối-tiếp nhau. Vận 30 năm được chia ra làm ba vận nhỏ, mỗi cái gồm 10 năm. Con số đó là kết-quả của sự nghiên-cứu của Nguyễn Văn Huy về khoa Tử Vi trong nhiều năm qua, nhưng chưa có dịp để trình làng .


H.2(b) Thời-vận của cá-nhân:

Trừ ra những người yểu-mệnh (dưới 21 tuổi tây), ai cũng đều được một cái thời 30 năm, và chỉ có một, để sống cho thỏa-chí bình-sinh. Cái thời như vậy xem ra rất cần-thiết, để kiếp sau còn hăng-hái đi đầu thai nữa . Nếu đời chỉ toàn là biển khổ và biển khổ, có lẽ các linh-hồn sẽ từ từ rút lui hết, nghĩa là không dám đi đầu thai nữa và cuối-cùng trái đất vắng hoe như chùa bà Đanh .

Ngoại-trừ 30 năm đó, những khoảng thời-gian còn lại trong cuộc đời đều "bình-bình", nghĩa là không thể gây được ảnh-hưởng đáng kể đối với xã-hội như trong lúc đắc thời. Thí-dụ như thời huy-hoàng của cả Thomas EdisonBill Gates bắt đầu ở tuổi 21 tây và chấm-dứt khi họ vào tuổi 51 tây. Từ đó, họ không còn khả-năng gây ảnh-hưởng đáng kể đối với thế-giới như giai-đoạn trước 50 tuổi. Thí-dụ như bản tin của BBC Internet vào ngày 06/11/2018, có tựa là "Bill Gates brandishes poo to showcase reinvented toilet tech", cho biết Bill Gates quảng-cáo cầu tiêu không cần nước và đường cống trong cái hội chợ triển-lãm "Reinvented Toilet Expo" tại Bắc Kinh. Hiển-nhiên cái sáng-kiến đó không quan-trọng đối với thế-giới như là những sáng-kiến về computer. Sản-xuất sofware là nghề ruột của Gates, mà từ năm 2006 ảnh không còn khả-năng lãnh-đạo Microsoft chỉ vì lý-do sức khỏe. Đó là điều có thể thấy được qua lá số Tử Vi của ảnh.

Cái thời 30 năm được coi là tối-đa, vì không phải lúc nào cũng hưởng được phúc (tức là có được cái thời mà mình mong muốn) trọn quãng thời-gian đó. Xin độc-giả lưu-ý: phúc của người này có thể là họa đối với người kia. Thí-dụ như khi "tiểu-nhân đắc-chí", thì "quân-tử thất-thời", kiểu như sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam thì người không muốn làm nô-lệ cho đảng Cộng-sản (xem phần 3 của bài "Mỗi nhà đấu-tranh dân-chủ bị tù là một cây đinh đóng vào nắp hòm của Nguyễn Phú Trọng" của Nguyễn Văn Huy trên Facebook) chỉ còn nước vượt biên . Xin độc-giả lưu-ý rằng có khi người ta hưởng phúc được chỉ trong 1, hoặc 2, cái vận nhỏ 10 năm, chứ không phải lúc nào cũng được đủ hết 3 cái.


H.2(c) Thời-vận của nhóm:

Trong khi đời người thông-thường bị giới-hạn ở tuổi 100 và thời-vận của cá-nhân bị giới-hạn bởi 30 năm, thì đời sống của nhóm ("group") lại không. Do đó, thời-vận của nhóm cũng không bị giới-hạn bởi con số 30. Thí-dụ: các tổ-chức tôn-giáo lớn như Phật-giáo, Ấn-độ-giáo, Công-giáo và Hồi-giáo đã tồn-tại hàng ngàn năm. Riêng đạo thờ Lửa (Zoroastrianism) ở Ba Tư có trước tất cả đạo vừa kể và vẫn tồn-tại tới ngày hôm nay. Xin trích một đoạn văn từ quyển "Man: Whence, How and Whither - A Record of Clairvoyant Investigation" (Con người: từ đâu đến, như thế nào và đi về đâu - Một bản ghi chép về sự điều-tra bằng thần-nhãn") của Annie BesantCharles Webster Leadbeater, xuất-bản năm 1913 bởi The Theosophical Publishing House ở Ấn Độ:

"In this long period of twenty-eight thousand years, one event stands out as of supreme importance-- the coming of the Mahaguru as the first Zarathustra, the founding of the Religion of the Fire, in 29,700 B.C."

("Trong thời-kỳ dài gồm 28 ngàn năm này, một biến-cố cực-kỳ quan-trọng nổi-bật lên. Đó là sự xuất-hiện của Đức Phật như là vị Zarathustra đầu-tiên, người sáng-lập tôn-giáo thờ Lửa vào 29 ngàn 700 năm trước Thiên chúa").

Độc-giả nên tìm thêm những thông-tin về những giáo-lý của Đức Phật trong quyển sách nói trên, trong quyển "Glimpses of Masonic History" và quyển "The Inner Life (First Series)" của Leadbeater, hơn là đọc những bài viết của Wiki (thí-dụ như bài "Hỏa giáo").


Trang 1, "Man: Whence, How and Whither", bản in 1947



Trang 280, "Man: Whence, How and Whither", bản in 1947



H.3 Thời-vận của vài nhân-vật ở miền Nam:

H.3(a) Ngô Đình Diệm:

H.3(a)(1) Đi tìm ngày sanh, tháng đẻ của Ngô Đình Diệm:

Theo bài "Ngô Đình Diệm" đăng trên Wiki, Diệm sanh ngày 03/01/1901. Tuy nhiên, theo Vũ Ngự Chiêu trong bài "Jean Baptiste Ngô Đình Diệm (1897 - 1963): Thời Kỳ Chưa Nắm Quyền, 1897-1954", đăng trên trang web Hợp Lưu ngày 31/10/2007, cho rằng Diệm sanh ngày 27/07/1897. Chiêu viết: "Tư liệu chúng tôi sử dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp thành lập vào tháng 7/1954, hiện vẫn còn chưa giải mật." Chiêu không cho số thứ-tự của tài-liệu và không kèm theo bản chụp. Và dù có đi nữa, vì tài-liệu chưa giải-mật, do đó độc-giả cũng chẳng có cách nào sao lục để kiểm-chứng. Cách nói dùng tài-liệu của ngành tình-báo như vậy cũng là cách mà Huỳnh Tâm đã dùng để lường-gạt người Việt trong những năm qua (xem đoạn B.3 của phần Phụ-lục của bài "Kỳ 1 - Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh đều có một vết sẹo gần chót tai trái, mà qua đó Sở Mật-thám Pháp xác định được rằng hai người này chỉ là một" của Nguyễn Văn Huy).

Đỗ Mậu, trong quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (xuất bản năm 1986 ở California), trong những trang 88-89 của bản in 1988, viết như sau:

(1) "Cũng trong năm 1951 này, một hôm tôi nhận được điện tín mật của ông Nguyễn Đôn Duyến (tôi nhớ hình như lúc bấy giờ ông đang làm tỉnh trưởng Thừa Thiên) chuyển lời của ông Ngô Đình Cẩn nhờ chấm số Tử Vi của ông Diệm xem trong tương lai gần có chuyển biến gì không. Liên lạc thêm với ông Duyến, tôi mới biết bà cụ Ngô Đình Khả mang trọng bịnh sắp mất và ông Cẩn đã nghĩ đến "hậu sự" cho bà như chuẩn bị quan tài, in thiếp báo tang và cũng đã đánh điện tín thông báo cho ông Diệm lúc bấy giờ đang ở Hoa Kỳ biết..."

(2) "Tại Đồng Hới có một thầy Tử Vi rất giỏi là thầy Dụ mà ông Cẩn, dù là một tín đồ Thiên Chúa giáo ngoan đạo và vẫn thường chỉ trích những hình thức bói toán này, đã nhấn mạnh với ông Duyến nhờ nói với tôi là phải đến ông thầy này chứ không ai khác. Tôi đến gặp thầy Dụ và đưa tuổi ông Diệm mà tôi giả vờ bảo là tuổi anh cả của tôi để thử tài và nhờ đoán hộ một số. Bấm tay xong, thầy Dụ bảo tuổi Canh Tí này không phải tuổi của anh tôi, mà phải là tuổi của một nhân vật rất tiếng tăm nhưng cuộc đời thì 'thăng trầm vô độ'."



Trang bìa, "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi", Đỗ Mậu



Trang 88, "Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi", Đỗ Mậu



Trong hai nguồn chứng-cớ ở trên, chứng-cớ của Sở Mật-thám Pháp (thời 1954 có cái tên là "Service de Protection du Corps expéditionnaire", theo bài "Sở Liêm phóng Đông Dương" của Wiki) khó được tin-tưởng nhất, vì vào đầu thế-kỷ 20 ở Việt Nam rất hiếm người được sanh ra trong bệnh-viện, mà hầu-hết được các bà mụ vườn đỡ đẻ. Do đó, trừ-phi Vũ Ngự Chiêu tìm được giấy khai-sanh của Ngô Đình Diệm do một bệnh-viện xác-nhận, nguồn thông-tin, mà ảnh cho rằng của Sở Mật-thám Pháp, về ngày sanh, tháng đẻ của Diệm không thể tin-tưởng được. Thông-tin của Đỗ Mậu đáng tin-cậy hơn, vì không có lý-do gì Ngô Đình Cẩn lại đưa ngày, tháng, năm và giờ sanh giả để coi Tử Vi cho anh của mình.

Chú-thích của Nguyễn Văn Huy:

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại Sỹ từng thú-nhận rằng trước 1975 ảnh chế ra là số năm Tý, tháng Tý và giờ Tý cho Nguyễn Văn Thiệu (xem bài "Chuyện ly kỳ về lá số tử vi của Nguyễn Văn Thiệu (1)") để tuyên-truyền cho chân-mạng đế-vương của Thiệu. Độc-giả có thể tìm thấy thêm thông-tin về tư-cách của Sỹ qua phần "2. Thư tố-cáo cha của 5 người con của Trần Đại Sỹ" của bài viết "(171) Cộng-đồng Người Việt Tự-do Victoria mời Trần Đại Sỹ tham-dự một cuộc hội-nghị tại cái gọi là Đền Thờ Quốc-tổ, mặc dù đã biết đó là một anh Cộng-sản nằm vùng" của Nguyễn Văn Huy.


H.3(a)(2) Lá số Tử Vi của Ngô Đình Diệm, dựa theo sự giải-đoán của thầy Dụ:

Trong hai trang 89 và 90 của quyển Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Đỗ Mậu viết:

"Giờ đây nhớ lại ông Diệm sinh năm Canh Tí mà quên mất ngày, tháng, giờ âm lịch, những yếu tố cần thiết để an sao hầu biết chi tiết về cả cuộc đời của ông. Nhưng nhìn vào từng đại hạn để đối chiếu với thực tế thì thấy rõ số của ông đúng là "thăng trầm vô độ" và "đại phát đại sát". Số của ông Diệm thuộc về Mộc tam cục, nghĩa là mỗi đại hạn bắt đầu bằng tuổi tận cùng có số 3." (Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)

Như vậy, căn-cứ vào lời của Đỗ Mậu, có thể nói rằng ảnh đã biết ngày, tháng, năm sanh chánh-thức (03/01/1901) không đúng chỗ nào hết. Nếu đúng, ảnh đã đổi qua âm-lịch và làm ra lá số rồi.



Trang 89, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Đỗ Mậu



Trang 90, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Đỗ Mậu



Căn-cứ trên những chi-tiết về sự giải-đoán của thầy Dụ và bài bản chính-thống của khoa Tử Vi Việt Nam vào thời đó, chúng ta có thể tính ra được rằng cung Mệnh của Ngô Đình Diệm có chánh-tinh thủ Mệnh là Tử Vi và Phá Quân nằm ở cung Mùi. Trong bài này, Nguyễn Văn Huy sẽ dùng chữ "lô" (đất) thay cho chữ "cung", để tránh tình-trạng vừa có cung Mệnh, cung Phụ Mẫu... lại vừa có cung Tý, cung Sửu...). Đã được gọi là 12 địa-chi ("earth branch"), nếu được dịch như là "lô đất" thì không thể kêu-ca vào đâu được .


H.3(a)(3) Lá số Tử Vi của Ngô Đình Diệm, dựa theo trí nhớ của Đỗ Mậu:

Tuy-nhiên, trí nhớ của Đỗ Mậu lại vẽ ra một lá số mới, khác với lá số trên. Căn-cứ vào cách phân-tách thời-vận của ảnh về Ngô Đình Diệm tại trang 90, xem ra ảnh đặt cung Mệnh nằm ở lô Ngọ. Do đó, đại-vận 44-53 tuổi mới có Thiên La và Địa Võng (nằm ở cung Tuất).


H.3(a)(4) Lá số Tử Vi của Ngô Đình Diệm do Nguyễn Văn Huy chế:

Nguyễn Văn Huy lại chế lá số của Ngô Đình Diệm theo một kiểu khác . Đó là cung Mệnh có chánh-tinh Vũ Khúc nằm ở lô Tuất. Lá số này dựa trên năm Canh Tý như Đỗ Mậu đã cho và giờ Tuất của ngày 05/07 âm-lịch. Đổi ra dương-lịch, đó là ngày 30/07/1900. Lý-do của việc thay-đổi ngày, giờ sanh để lá số phù-hợp với cuộc đời của đương-số đã từng được Nguyễn Văn Huy giải-thích vài lần trước đây (xem những bài viết dưới tiểu-mục "Những bài viết về khoa Tử Vi dưới nickname 'johnmiths'" trong Mục-lục của những bài viết trên mạng của Nguyễn Văn Huy). Tuy nhiên, trong một bài viết về Tử Vi sau này, vấn-đề đó sẽ được đưa ra bàn lại.

Chúng ta hãy tạm dùng ngày 01/05 âm-lịch làm mốc thời-gian cho sự thay-đổi của những thời-vận của Ngô Đình Diệm, mặc dù ngày sanh, tháng đẻ đã được chọn là 05/07 (lý-do sẽ được giải-thích trong một bài viết về Tử Vi sau này). Đại-vận đầu-tiên sẽ được an ở cung Phụ Mẫu (lý-do cũng sẽ được giải-thích trong một bài viết về Tử Vi sau này). Ảnh được cái thời 30 năm từ ngày 12/06/1934 (01/05/Giáp Tuất) cho tới trước ngày 10/06/1964 (01/05/Giáp Thìn). Tuy nhiên, trong 30 năm đó, vận 10 năm thứ hai - từ ngày 22/05/1944 (01/05/Giáp Thân) đến trước ngày 01/06/1954 (01/05/Giáp Ngọ) - thì xấu. Ngày 26/06/1954, Diệm về Sài Gòn để đảm-nhiệm chức Thủ-tướng miền Nam. Đó là sự bắt đầu của vận 10 năm cuối-cùng. Đến ngày 01/11/1963 (16/09/Quí Mão), Diệm bị đảo-chánh và hôm sau bị Dương Văn Minh giết. Như vậy, Diệm đã chết khi bước vào tháng thứ tư, của năm thứ 10, của vận 10 năm thứ ba và của cái thời 30 năm. Đặt nền móng cho một chế-độ dân-chủ và tự-do của một quốc-gia không phải là chuyện dễ-dàng, do đó có thể nói tài tổ-chức hành-chánh của Diệm vượt quá những người đương-thời tại miền Nam.


H.3(b) Nguyễn Văn Thiệu:

Theo bài "Nguyễn Văn Thiệu" trên Wiki, Thiệu sanh năm 1923. Năm 1945, Thiệu tham-gia phong-trào toàn-dân kháng-chiến chống Pháp do Việt-Minh lãnh-đạo, nhưng sau đó bỏ Việt-Minh và gia-nhập quân-đội Pháp, vì biết Việt-Minh ác hơn Pháp nhiều . Năm 1975, Thiệu từ-chức Tổng-thống Việt Nam Cộng Hòa rồi đi lưu-vong bên Đài Loan. Từ lúc đó cho đến chết (năm 2001) ở Mỹ, Thiệu tuy từng cố-gắng gầy lại cuộc đấu-tranh chống Cộng, nhưng không thành-công. Như vậy, Thiệu đã có cái thời 30 năm (1945-1975). Thiệu giúp Dương Văn Minh lật-đổ Diệm vào năm 1963 để tìm công-danh theo kiểu Nguyễn Công Trứ , nhưng rốt cuộc chỉ được cái "thân bại, danh liệt" và người người nguyền-rủa. Tuy Thiệu vẫn còn tốt hơn những kẻ lãnh-đạo Cộng-sản gấp nhiều lần, nhưng bài học đích-đáng và cay-đắng cho những người chủ-trương đặt quyền-lợi của mình lên trên quyền-lợi của người khác vẫn cần phải được thấu-triệt.


H.4 Thời-vận của Hồ Chí Minh:

H.4(a) Khi vị-ngộ:

Theo bài "Hồ Chí Minh" đăng trên Wiki, Hồ Chí Minh sanh năm 1890. Năm sanh thật là 1892 (xem phần "C.1 Năm sanh của Nguyễn Tất Thành" trong bài "Kỳ 1 - Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh đều có một vết sẹo gần chót tai trái, mà qua đó Sở Mật-thám Pháp xác định được rằng hai người này chỉ là một").

Trước năm 50 tuổi (1942), Hồ Chí Minh làm gì thì làm, cuối-cùng cũng không đi tới đâu. Thí-dụ như vào năm 1925 ảnh dùng một mưu kế thần sầu, quỷ khốc, để bán Phan Bội Châu cho Pháp (xem bài "Hồ Chí Minh gian hùng sử (2) - Bán người (kỳ 1)" và bài "Hồ Chí Minh gian hùng sử (2) - Bán người (kỳ 2)" của Nguyễn Văn Huy). Ảnh thành-công và kiếm được khối tiền. Sau đó Hồ Chí Minh dùng tiền thưởng của Pháp để gầy dựng chi-bộ đảng của Đệ Tam Quốc-tế ở Quảng Châu. Lúc đó, nhờ "vai mang túi bạc kè kè", lời nói của ảnh đối với Cộng-sản Tàu rất có uy-tín.

Chú-thích của Nguyễn Văn Huy:

Theo Hoàng Văn Chí, trong quyển "Từ Thực-dân đến Cộng-sản", trang 38, Chân Trời Mới xuất-bản năm 1964 tại Sài Gòn, số tiền mà Pháp thưởng cho Hồ Chí Minh là 100 ngàn tiền Đông Dương, tức là khoảng 5 triệu 800 ngàn đô Mỹ vào năm 2015. Phương-pháp tính-toán đã được trình-bày trong phần "C.2 Cái mạng của Nguyễn Ái Quốc đáng giá bao nhiêu?" của bài "Hồ Chí Minh gian hùng sử (3) - Bán Đảng". Tuy-nhiên, kết-quả chỉ gần đúng thôi, vì Nguyễn Văn Huy dùng trị-giá của tiền Đông Dương năm 1931, chứ không phải 1925. Trong khi đó, vào năm 1929 khủng-hoảng kinh-tế toàn-cầu xảy ra và dẫn đến Đệ Nhị Thế-chiến. Điều đó có nghĩa là tiền Đông Dương lẫn đô la Mỹ vào năm 1925 có giá hơn thời năm 1931 nhiều. Do đó, tiền thưởng của Pháp đương-nhiên vượt quá 5 triệu 800 ngàn đô Mỹ của nâm 2015.



Trang 28, "Từ Thực-dân đến Cộng-sản", Hoàng Văn Chí"



Thình-lình vào năm 1927 Tưởng Giới Thạch trở mặt, đánh úp các lực-lượng võ-trang của Cộng-sản Tàu ở Thượng Hải và Quảng Đông và ngay cả trường Võ-bị Hoàng Phố, nơi Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai đang làm giảng-viên. Hồ Chí Minh trốn-tránh và cố gắng nấn-ná thêm ít lâu. Nhưng vì đặc-vụ của Tưởng Giới Thạch lùng-kiếm dữ quá, do đó cuối-cùng ảnh cũng phải bỏ luôn chi-bộ đảng và cả cô vợ Tàu mới tậu được nhờ tiền bán Phan Bội Châu (tên Tăng Tuyết Minh), quất ngựa Truy Phong, à không, nhảy lên xe lửa, vọt qua Hồng Kông tỵ-nạn. Thế là "của thiên trả địa" và "tay trắng hoàn trắng tay" .


H.4(b) Khi đắc-thời:

Hồ Chí Minh được Trương Phát Khuê, tướng của Tưởng Giới Thạch, phóng-thích vào tháng 09/1943. Trước đó vài tháng, vào tháng 05/1943, Đệ Tam Quốc Tế được lệnh giải-tán của Stalin. Nguyên-nhân của biến-cố này là vì Liên Xô cần nhận viện-trợ của Mỹ để chống lại Đức, cho nên chút lòng trinh-bạch đấu-tranh lật-đổ các chế-độ tư-bản từ nay phải xin chừa . Vì vậy, coi như Hồ Chí Minh bị đảng Cộng-sản Nga cho nghỉ việc (lay-off) mà không có tiền bồi-thường lao-động.

Năm sau, vào tháng 09/1944, Hồ Chí Minh lên đường qua Tàu để tìm job ("việc làm") . Lúc đó, Hồ đã bắt đầu vào thời-vận tốt 30 năm được 09 tháng. Việc giải-tán Đệ Tam Quốc Tế tuy có vẻ như là họa, nhưng cuối-cùng lại là phúc, vì một khi Hồ được chủ cũ trả tự-do thì sau đó có quyền phục-vụ cho người chủ mới. Đó là đảng Cộng-sản Tàu (xin xem phần "A. Việt Cộng thú-nhận đã làm nô-lệ cho người Tàu trong suốt 30 năm" của bài "Trời định miền Nam thua cuộc chiến để dân-tộc có thể vươn lên (Kỳ 1)").

Để tiện việc phân-chia những giai-đoạn của cuộc đời của Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Huy xin đề-nghị dùng thời-điểm ngày 01/12 âm-lịch cho những thời-vận 10 năm hoặc 30 năm của Hồ Chí Minh, bắt đầu từ 01/12/Quí Mùi (27/12/1943). Đó là năm Hồ 51 tuổi tây (1892 + 51 = 1943).

Vào ngày 02/09/1945, Hồ Chí Minh cướp chính-quyền của Trần Trọng Kim. Chiến-tranh Việt Pháp bùng nổ vào năm 1946. Từ lúc đó, Hồ Chí Minh không ngừng ám-sát, thủ-tiêu người của các đảng-phái khác, từ Bắc chí Nam, để củng-cố quyền-lực. Cho đến cuối năm 1953, cuộc chiến giữa Việt-Minh và Pháp vẫn chưa phân thắng-bại, tuy cán cân quân-sự cứ tiếp-tục ngã dần về phía Việt-Minh.

Vận 10 năm đầu tiên là thời-gian gian-khổ nhất trong cái vận lớn 30 năm của Hồ Chí Minh. Vận 10 năm này kéo dài từ 27/12/1943 (01/12/Quí Mùi), cho tới 05/01/1954 (01/12/Quí Tị).

Xin trích một đoạn văn trong trang 24 của quyển Đèn Cù 1 của Trần Đĩnh:

"Trường Chinh kể một chuyện khiến tôi cảm thêm anh. Pháp đánh vào căn cứ địa chân Núi Hồng, giữa lúc Trường Chinh ở Bắc Cạn bị Pháp nhảy dù và anh đã bị kẹt trong một hầm “tăng sê” có mái ở giữa thị xã đầy lính Pháp. Lính đã đứng ở miệng hầm gọi xuống: “Ra đi, các quan trông thấy cả rồi...” Trường Chinh bảo hai mẹ con một bà cùng nấp ở dưới hầm: “Bà ra là chúng hiếp cả hai mẹ con rồi giết...” Anh đã cho hết giấy tờ trong người nhai nát rồi nuốt, chuẩn bị hô hai khẩu hiệu: Việt Nam độc lập muôn năm! Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm. (Lúc ấy chưa phú quý nên chưa có lệ lễ nghĩa hô Hồ Chủ Tịch muôn năm!) Đợi đêm tối Trường Chinh xuyên rừng mò về chân Núi Hồng thì Trung ương đã dạt cả sang Bắc Sơn - Đình Cả. Pháp theo sát nút. Linh hồn của kháng chiến thoát trong đường tơ kẽ tóc. Nhưng con chó béc-giê thuộc Tiểu đoàn 51 tiền thân Trung đoàn Thủ đô, con nuôi báo Sự Thật tặng Cụ Hồ đã bị hổ vồ."(Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)



Trang 24, Đèn Cù 1, Trần Đĩnh



Trận chiến Điện Biên Phủ bắt đầu từ ngày 13/03/1954. Đến ngày 07/05/1954, Điện Biên Phủ thất-thủ. Hiệp định Genève được ký-kết vào ngày 20/07/1954. Việt Nam bị chia thành hai nước. Hồ Chí Minh tiếp-tục làm chủ-tịch nước (miền Bắc). Thời-kỳ an-cư, lạc-nghiệp và trai-gái lăng-nhăng của Hồ Chí Minh bắt đầu từ ngày 05/01/1954 (01/12/Quí Tị) cho tới ngày 15/01/1964 (01/12/Quí Mão), trong khi đồng-bào miền Bắc bị bần-cùng-hóa trong cái thời-đại mà Việt Cộng tung-hê là thời-đại Hồ Chí Minh. Đó là cái vận 10 năm thứ nhì.


H.4(c) Khi thất-thời:

Cái vận 10 năm thứ ba của Hồ Chí Minh bắt đầu từ ngày 15/01/1964 (01/12/Quí Mão) cho tới ngày 23/12/1973 (01/12/Quí Sửu). Tuy nhiên ảnh không thể sống cho hết cái vận đó, và đó lại là một cái vận xấu. Theo những tin-tức vớ-va, vớ-vẩn từ phía Việt Cộng thì ảnh chết vào ngày 01/09/1969 (20/07/Kỷ Dậu) hoặc 02/09/1969. Tuy nhiên, căn-cứ vào lá số Tử Vi của Hồ mà Nguyễn Văn Huy tính-toán ra được, thì ảnh đã chết trước đó ít nhất 10 ngày. Đó là chưa nói tới chuyện ướp xác. Theo nguồn tin riêng của Nguyễn Văn Huy (mà chính Nguyễn Văn Huy cũng không kiểm-chứng được), để việc ướp xác được thành-công, Hồ Chí Minh phải được tiêm thuốc độc (chất preservative) vào thân-thể trong lúc ảnh hãy còn sống. Máu sẽ mang chất độc đi khắp cơ thể và thấm sâu vào da thịt và giữ cái xác lâu hư. Việc tiêm thuốc độc phải được bôi-xóa mọi vết tích kẻo miệng đời dèm-pha , do đó cần phải có vài ngày để thực-hiện. Xin xem chứng-cớ về việc Lê Đức Thọ đặt kế-hoạch ướp xác Hồ Chí Minh trong phần "D. Khi những nạn nhân của Nguyễn Ái Quốc trả thù" của bài "Hồ Chí Minh gian hùng sử (3) - Bán Đảng".

Lẽ dĩ nhiên không ai bằng lòng việc mình bị người khác đè ra ướp xác để làm công-cụ tuyên-truyền, nhất là trong lúc mình vẫn còn khỏe mạnh và yêu đời. Trong Đèn Cù 1, Trần Đĩnh thường nhắc đi nhắc lại rằng mặt Hồ Chí Minh đỏ như ông tiên. Thí-dụ như trong trang 324, Trần Đĩnh viết: "

"Tối khai mạc, Tố Hữu được cả Đại hội hò ầm ầm đòi ngâm thơ, Tố Hữu tủm tỉm ra trước micro. Cụ Hồ đỏ au như ông Tiên, giơ tay đe trước: - Cấm ngâm thơ về Bác!" (Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)

Có người nói rằng ăn sâm Cao Ly nhiều quá sẽ làm do mặt đỏ thường-xuyên. Nếu được bồi-dưỡng kỹ như vậy, có lẽ Hồ Chí Minh sẽ không cần tới Viagra . Do đó, nếu cuộc đời của Hồ Chí Minh bị kết-liễu bằng những mũi thuốc độc, đó chẳng qua là "thân bất do kỷ" , chứ ảnh có muốn như vậy đâu. Như vậy, những câu chuyện về những lời trăn-trối của Hồ Chí Minh, thí-dụ như câu chuyện ảnh đòi nghe một bản nhạc Tàu, đều là giả-tạo.

Theo Trần Đĩnh, trong trang 230 của quyển Đèn Cù 1, vào tháng 12/1963, Mao Trạch Đông, Lê DuẩnLê Đức Thọ quyết-định mở rộng chiến-tranh Việt Nam và phổ-biến quyết-định này qua phần tuyệt-mật của Nghị-quyết 9 (xem bài "Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng", đăng trên trang web dangcongsan.vn), nhưng Hồ Chí Minh không tán-thành. Điều này dễ hiểu thôi: Hồ già cả rồi (71 tuổi), do đó không muốn tự mình làm cho mình cực-nhọc thêm, mà chỉ muốn hưởng-thụ vimh-hoa, phú-quý cho đến hết cuộc đời, chứ chẳng phải vì ảnh yêu-chuộng hòa-bình gì đâu. Tuy nhiên, ảnh không dám chống lại ý muốn của phe Lê Duẩn, mà chỉ bỏ phiếu trắng (Trần Đĩnh viết "không biểu-quyết"). Xin trích một đoạn văn từ trang 249 của quyển Đèn Cù 1 để độc-giả thấy tình-hình phe-phái lúc bấy giờ:

"Theo họ giải thích thì hóa ra "Lê Duẩn" hơn Hồ Chí Minh về tất cả quyền hành, tư tưởng, lập trường. Đã kém Duẩn thế, Hồ Chí Minh lại mắc bệnh quan liêu, không xem văn kiện mà cứ ký bừa trong lúc tình hình phe bí bét. Ba là Hồ Chí Minh đã sa sút đến bước để cho Ba Duẩn nói sao cũng nín... Phe Duẩn đông miệng hơn mà. Nào, thử xem nhá. Có phải đến tận cuối năm 1963 mới có Nghị quyết 9 chống xét lại không? À, thế thì họ dựa vào cái gì mà đè cụ ra hoạnh là sai nào? Dựa vào đường lối quan điểm Mao! Đúng thế không? Còn sự thật thì thế nào? Là mình thảo bản tuyên bố đó rồi đưa cho Cụ. Và chính tay Cụ viết thêm bằng mực đỏ vào đó mấy ý kiến còn sặc “hoà bình chủ nghĩa “và bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa hơn nữa. Mình đọc mà. Mình đã phải giấu đi để họ không nắm được mà hành thêm ông cụ nữa mà. Họ đụng đến cụ cũng là nhằm hạ uy-thế Cụ và cô-lập Cụ trong hội nghị 9 sắp họp cuối năm, để cho trong đảng không còn ai dám theo Cụ nữa."



Trang 249, Đèn Cù 1, Trần Đĩnh



Còn đoạn văn dưới đây được trích ra từ trang 266 của quyển Đèn Cù 1:

"Xong Nghị quyết 9, tôi được nghe truyền đạt rằng từ nay Cụ Hồ thôi họp Bộ chính trị - vì “sức khoẻ” - còn Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm thì ngồi chơi xơi nước và học nhạc lý cùng piano. Đảng ra tay trấn áp rất nhanh. Nghe nói lục soát cả chỗ làm việc." (Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)



Trang 266, Đèn Cù 1, Trần Đĩnh



Vào tháng 07/1967, Hồ Chí Minh bị Lê DuẩnLê Đức Thọ đảo-chánh và bắt đầu bị giam-cầm từ lúc đó (xem phần "D. Khi những nạn nhân của Nguyễn Ái Quốc trả thù" của bài "Hồ Chí Minh gian hùng sử (3) - Bán Đảng" của Nguyễn Văn Huy). Năm 1969, Hồ Chí Minh chết. Như vậy, trong cái vận nhỏ thứ ba, ảnh chỉ có 5 năm xấu (1964-1969). Khi sang vận 5 năm tốt, cái chết mang lại sự giải-thoát cho cuộc đời ngục-tù khốn-khổ của ảnh.

Trong bài "Bác Hồ vẫn phải chịu đau-đớn oan khuất dưới suối vàng", đăng trên báo mạng Quan Làm Báo ngày 15/07/2012 (mà xem ra tác-giả không ai khác hơn là Đặng Thị Hoàng Yến), có những đoạn sau đây:

"Có lẽ Bác Hồ ở nơi chin suối cũng đau lòng vì con cháu ruột thịt của mình đang kiếm tiền trên tên tuổi của Bác! Khi Bác ra đi cũng chỉ có mấy bộ quần áo ka-ki và đã bị thầy trò Lê Duẩn giam lỏng tại K9 để phục vụ cho kế hoạch thần thánh hoá mỵ dân. Thực sự những người Việt Nam có lương tri vẫn dành cho Bác một tình cảm như một người cha già đã khai sinh ra Tổ Quốc Việt Nam. Nếu thật sự có tấm lòng với Bác thì tại sao Nguyễn Sinh Hùng không dũng cảm công bố lại những trang lịch sử đã bị viết sai cho toàn dân thấu hiểu nỗi đớn đau của con người đã khai sinh ra đất nước Việt Nam, nhưng những năm tháng cuối đời đã phải chịu những oan trái và uẩn khúc của một người tù bị giam lỏng? (Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)

"Rất nhiều người đã rơi nước mắt khi đến tham quan K9, nhìn thấy cái phòng của Bác sống những năm tháng cuối đời chưa được 20 m2 với chiếc giường chỏng trơ, không nệm, không chăn ấm và không điện thoại! Làm sao ai có thể tin được đó là phòng ở của một vị lãnh tụ! Đến điện thoại còn không có! Chỉ đến những ngày sắp ra đi, Bác mới được đưa về Hà Nội …" (Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)



Screenshot bài viết về Hồ Chí Minh của Quan Làm Báo



H.5 Thời-vận của Lê Đức Thọ:

Theo gia-phả của dòng họ của Lê Đức Thọ, ảnh sanh ngày 30/12/1911 (11/11/Tân Hợi). Dựa vào kiến-thức của Nguyễn Văn Huy về khoa Tử Vi, trước khi làm ra lá số Tử Vi có thể nói ngày tháng năm sanh này trật-lất. Trong khi đó, ngày tháng năm sanh chính-thức, 10/10/1911 (19/08/Tân Hợi), vẫn có thể chấp-nhận được để làm thử, dù chưa chắc là trúng. Sau này, khi có thời-giờ, Nguyễn Văn Huy sẽ viết một cuốn sách để trình-bày kiến-thức vừa nói. Còn trong lúc này chúng ta chỉ dùng sử-liệu để minh-họa thời-vận 30 năm của một con người.

Nguyễn Văn Huy xin đề-nghị tạm thời dùng ngày 15/06 âm-lịch để làm cái mốc bắt đầu cho mọi thời-vận. Vận tốt 30 năm của Lê Đức Thọ bắt đầu từ ngày 02/08/1955 (15/06/Ất Mùi) (Thọ được vào Bộ Chính-trị vào cuối năm 1955) và chấm-dứt vào ngày 31/07/1985 (14/06/Ất Sửu). Từ ngày 01/08/1985 (15/06/Ất Sửu), Thọ vào thời-vận 10 năm xấu, và chết vào ngày 13/10/1990 (25/08/Canh Ngọ).


H.5(a) Thành-tích:

Cặp Lê Duẩn - Lê Đức Thọ đảo-chánh Hồ Chí Minh vào tháng 07/1967, rồi sau đó tiếp-tục đẩy mạnh chiến-tranh Việt Nam cho tới lúc đại-thắng vào ngày 30/04/1975. Hai ảnh cũng làm Mao Trạch Đông chết trong tủi-nhục, vì dù Mao đã cúp viện-trợ quân-sự cho miền Bắc theo thỏa-ước với Nixon để có hiệp-định Paris, và Mao đã thách-thức hai ảnh có giỏi thì cứ phá-hoại hảo-sự giữa Mao và Nixon đi (xem phần "B.1 Việt Cộng phát-động chiến-dịch "Mùa hè đỏ lửa" sau khi Mỹ và Trung Cộng đồng-ý chấm-dứt chiến-tranh Việt Nam" của bài "Trời định miền Nam thua cuộc chiến để dân-tộc có thể vươn lên (Kỳ 1)"), nhưng rốt cuộc Việt Cộng vẫn có thể cưỡng-chiếm miền Nam trong vòng một tháng rưỡi. Đến năm 1979, Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam để rửa nhục, rốt cuộc lại rước thêm cái nhục thua trận khác (xem phần "F. Việt Cộng đánh nhau với Trung Cộng" của bài "(63) Trời định miền Nam thua cuộc chiến để dân-tộc có thể vươn lên (Kỳ 2)").


H.5(b) Báo-ứng:

H.5(b)(1) Ba anh tướng gộc của Việt Cộng chết trong vòng 05 tháng:

Trước Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 (từ ngày 15 đến ngày 18/12/1986), những quan, tướng gộc của Việt Cộng sau đây lần-lượt qua đời:

(1) Đại-tướng Hoàng Văn Thái: chết ngày 02/07/1986. Theo bài "Hoàng Văn Thái" trên Wiki, ảnh là Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của quân đội Việt Cộng, và từng gây nhiều nợ máu với nhân-dân miền Nam qua những chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), chiến dịch Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 và chiến dịch đánh chiếm Sài Gòn.

(2) Tổng-bí-thư Lê Duẩn: chết ngày 10/07/1986 (xem bài "Lê Duẩn" trên Wiki). Không tội ác nào với nhân-dân mà ảnh không làm, mà tội nào cũng to như núi. Do đó, vài hàng ở đây không đủ chỗ để tóm-tắt. Khổ thì thôi .

(3) Đại-tướng Lê Trọng Tấn: chết ngày 05/12/1986. Tội-ác cuối cùng đối với nhân-dân của anh này là làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, dẫn cánh quân phía Đông tiến đánh Sài Gòn. Theo Wiki, chính xe tăng của lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của Tấn đã húc ngã cổng dinh Độc Lập (xem bài "Lê Trọng Tấn").

Trong quyển "Mặt Thật" của Bùi Tín, xuất-bản năm 1993 bởi Saigon Press tại California, trang 194 (thuộc về Phần 2, tiểu-mục "Thời của các ông tướng địa-phương") có hai đoạn văn nói về cái chết của hai anh tướng Hoàng Văn Thái và Lê trọng Tấn, như sau:

"Từ sau 1975, đặc biệt là mấy năm gần đây, những cận thần thân tín của ông Giáp thưa thớt dần. Số đông về hưu, một số đã chết. Cái chết của hai ông Đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn làm ông đau buồn khôn xiết. Tôi đã được thấy khá nhiều lần sự tin yêu của ông Giáp với hai ông đại tướng này. Ông Hoàng Văn Thái ở gần ông Giáp từ dạo còn ở bên Trung Quốc, và sau đó ở căn cứ Việt Bắc từ cuối năm 1944. Về Hà nội, chính ông Giáp đã chọn ông Hoàng Văn Thái làm Tổng tham mưu trưởng. Ông Thái ở Bộ Tổng tham mưu từ đó cho đến khi đột tử tháng 6 năm 1986!"

"Đúng nửa năm sau, ông Giáp lại khóc một lần nữa sau cơn đột tử vẫn lại đột tử, chết bất thần, nguyên nhân không thật rõ, của đại tướng Lé Trọng Tấn, một cán bộ quân sự có đức có tài. Trong toàn quân, ông Tấn có uy tín cực lớn, ông là lão tướng xông xáo, có mặt ở mọi nơi nóng bỏng nhất. Là sư trưởng sư đoàn Công Pháo (Công binh – Pháp binh) ở chiến dịch Điện Biên Phủ, ông còn có mặt ở chiến trường Lào, ở chiến địch Sầm Nưa, rồi năm 1966 đến 1969 ở Trung ương Cục miền Nam, rồi tư lệnh cánh Duyên Hải tiến công từ Đà Nẵng qua Cam Ranh, Bà Rịa, Biên Hòa, để vào Dinh Độc Lập… mùa xuân 1975."



Trang bìa trước của quyển 'Mặt Thật' của Bùi Tín



Trang 194, 'Mặt Thật' của Bùi Tín



Nhờ lòng ái-mộ của Bùi Tín với hai tướng Việt Cộng gộc, Hoàng Văn Thái và Nguyễn Trọng Tấn, mà Nguyễn Văn Huy tiết-kiệm được thời-giờ trong việc truy-tìm những tội-ác của hai anh đó đối với nhân-dân và biết được rằng hai anh này chết không nhắm mắt .


H.5(b)(2) Lỡ đánh một con chó thì phải đánh luôn cả bầy:

Cái chết của ba anh tướng Việt Cộng có thể được giải-thích như sau: Lê Đức ThọLê Duẩn hục-hặc với nhau. Lê Đức Thọ bèn giết cả Lê Duẩn và đàn em của Duẩn là Hoàng Văn Thái gần như cùng một lúc (vì cách nhau chỉ có 8 ngày), theo kiểu lỡ đánh một con chó thì phải đánh cả bầy, nếu không sớm muộn gì bầy chó cũng nhào vô cắn trả thù. Những đoạn văn dưới đây được trích ra từ bài viết "Làm người là khó - Hồi ký Đoàn Duy Thành" (Đoàn Duy Thành là cựu Phó Thủ-tướng Việt Cộng)::

(i) "Ra đến Hà Nội được 2, 3 ngày thì anh Ba mất. Tôi chạy lại gia đình anh. Chị và các cháu xúm lại hỏi tôi đi đâu mấy tháng: “Lúc anh Ba yếu nặng chú không lại ?” Tôi nói chuyện đi công tác miền Nam nên thất lễ với anh Ba trong những ngày cuối cùng. Cả nhà anh Ba lo lắng, nhất là mấy cháu gái: Cừ, Muội, Hồng, các con rể Lê Bá Tôn, Hồ Ngọc Đại. Nói là cháu, nhưng các cháu chỉ kém tôi 5, 7 tuổi. Tất cả xúm lại hỏi tôi và lo lắng: "– Ba cháu mất rồi, liệu họ … có giết gia đình nhà cháu không?"

(ii) "Sau đó, tôi mới tìm hiểu, tại sao có chuyện hoảng loạn tại gia đình anh Ba như vậy, khi anh qua đời… Đó là những người có dụng ý chia rẽ, nói phe cánh anh Lê Đức Thọ và Trần Xuân Bách định ám hại gia đình anh Ba."

(iii) "Tôi cũng chỉ mới biết có sự bất hòa giữa anh Ba và anh Lê Đức Thọ, cách đấy khoảng 4, 5 tháng."

(iv) "Khoảng tháng 5-1986 tôi đến thăm anh Ba ở Hồ Tây, gần đến khu biệt thự tôi gặp xe anh Thọ đi ra. Tôi vào thăm anh Ba, có anh Bùi San ở đó. Thấy tôi đến, anh Bùi San chào anh Ba ra về. Tôi bắt tay anh Bùi San và vào thăm anh Ba. Anh Ba tỏ vẻ hơi bực tức nói: '– Đấy nó đấy, tôi vừa đuổi nó ra rồi…'"

(Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)


Trong vòng 5 tháng sau đó, Thọ tìm cách lôi kéo Lê Trọng Tấn về phe mình. Nhưng xem ra chiêu dụ-hàng không thành-công, cho nên, 10 ngày trước khi Đại-hội đảng lần 6 kéo màn, Thọ giết Tấn luôn cho được việc.


H.5(b)(3) Lê Đức Thọ bị hạ-bệ:

Sau khi Lê Duẩn chết, Lê Đức Thọ đưa Trường Chinh lên làm quyền Tổng-bí-thư cho đến ngày Đại-hội đảng kết-thúc vào ngày 18/12/1986 (xem bài "Trường Chinh" trên Wiki). Tuy nhiên, Thọ không nắm được quân-đội, dù đã giết cả Tổng-bí-thư lẫn hai anh tướng. Lý-do là tâm-lý của quân-nhân và dân-sự rất khác nhau. Nếu chỉ dùng thủ-đoạn ám-sát để làm tan vỡ ý-chí chống-đối của quân-đội thì không thể thành-công, vì quân-đội cũng có súng - không những có nhiều súng hơn mà súng nào cũng to hơn súng của công-an . Trước đây, sau khi giết Nguyễn Chí Thanh vào tháng 07/1967, Thọ và Duẩn phải lợi-dụng trận Tết Mậu Thân 1968 mới diệt được những đàn em của Thanh, chứ không phải dễ. Cuộc đồ-sát ở Huế là hậu-quả của cuộc thanh-trừng nội-bộ này. Vấn-đề đó sẽ được trình-bày trong một bài viết khác, khi huỡn .

Trong Đại-hội đảng lần 6, Lê Đức Thọ bị đá ra khỏi Bộ chính-trị lẫn Trung-ương-đảng luôn (xem bài "Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI"). Còn cái chức "Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng" dành cho ảnh, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng không có thực-quyền.


H.5(b)(4) Dậu đổ, bìm leo:

Sau Đại-hội đảng, những tay chân, thân tín của Lê Đức Thọ lần-lượt bị giết hại:

(1) "Thượng-tướng Đinh Đức Thiện" (em của Lê Đức Thọ): chỉ có ba ngày sau Đại hội đảng kết-thúc, vào ngày 21/12/1986, Thiện bị người của phe Nguyễn Văn Linh cắc-bùm, chết ngắt.

(2) Trung-tướng Phan Bình, Cục Trưởng Cục 2 Quân Báo: vào ngày 12/01/1987 (chưa đầy 1 tháng sau Đại-hội đảng), sau khi bị Lê Đức Anh tước hết binh-quyền, bị người của phe Nguyễn Văn Linh bắn vào đầu mà chết (xem bài "Thư của Trung tướng (CS) Lê Văn Hiền (nguyên ủy viên Trung ương đảng)", đăng trên hung-viet.org ngày 31/07/2000). Xem ra, tới đây, chúng ta đã có thể khóa sổ việc đấu-tranh nội-bộ của Việt Cộng rồi.


H.5(b)(5) Lê Đức Anh phản-phé:

Khoan đã! "Lê Đức Anh" được Lê Đức Thọ đặc-biệt cất-nhắc, cho thăng quan, tiến chức liên-tục trong quân-đội, mặc-dù đánh giặc dở như hạch . Điều đó có nghĩa là Anh có nhiệm-vụ nắm quân-đội để giúp Thọ trở thành Tổng-bí-thư, nếu sau này Lê Duẩn giở quẻ. Vào năm 1984, Lê Đức Anh đã được phong hàm đại-tướng rồi. Thế thì tại sao Anh không làm được việc? Lê Đức Thọ mưu-tính như thần, nhưng tại sao lại thất-bại một cách đau-đớn như vậy? Ngoài ra, sau khi Thọ bị hạ-bệ, Anh lại không bị truất-phế? Ngược lại, đời Anh càng lên hương hơn nữa. Sau Đại-hội đảng 6, ảnh được phong làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội, rồi trở thành Bộ-trưởng Quốc-phòng ngay sau đó.

Như vậy, có thể đoán ra dễ-dàng rằng Lê Đức Anh đã bán đứng Lê Đức Thọ bằng cách cấu-kết với những kẻ thù của Thọ, trong số đó có Nguyễn Văn Linh và các tướng-lãnh quân-đội. Nguyên-nhân không khó giải-thích: phe tướng-lãnh chống Thọ mạnh quá, mà Lê Đức Anh trở thành đại-tướng chẳng qua nhờ nịnh bợ Lê Đức Thọ, chứ chả có tài-cán gì, thì làm gì có uy-tín gì để trấn-áp các tướng-lãnh? Chỉ riêng việc cầm trong tay ba sư-đoàn, được giao nhiệm-vụ vượt sông Vàm Cỏ để hội quân với những cánh khác để chiếm Sài Gòn vào ngày 30/04/1975, mà Lê Đức Anh còn làm không xong. Đến lúc Dương Văn Minh tuyên-bố đầu hàng, ba sư-đoàn của ảnh vẫn còn bị hải-quân Việt Nam Cộng Hòa cho đứng hóng gió ở bên bờ sông Vàm Cỏ kia mà .

Dưới đây là một số đoạn văn được trích ra từ bài viết "Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 và đôi lời tâm sự của HQ Đại Tá Lê Hữu Dõng", đăng trên trang web hqvnch.net (không ghi ngày tháng):

“Mấy ngày sau, mặt sông có những xác người trôi đen đặc. Mùi tử khí bay nồng nặc. Nghĩ lại cuộc chiến thật đau lòng…” Vẫn lời của Đại-tá Dõng: ”Đó là một trong những cuộc tao ngộ chiến, mà sau này đọc tài liệu của họ tôi mới biết. Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đã cản đường tiến của đoàn 232, tương đương với 1 Quân Đoàn, do tướng Lê Đức Anh chỉ huy, nằm ém quân bất động ở ngã ba sông Vàm-Cỏ, đợi sẵn khi có thể là vượt sông, tiến vào Sài-Gòn. Tại đó, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 lúc nào cũng có 6 chiến đĩnh hiện diện. Vậy mà chúng nín khe, suốt mười mấy ngày không một tiếng súng bắn ra.

"Bây giờ cuộc chiến đã tàn. Mọi việc đã nhạt nhòa như không có thực. Nhưng giả thử Cộng quân không bị cản đường, chúng qua được sông Vàm-Cỏ, nằm sẵn ở 2 bên sông Lòng-Tào và Soài-Rạp, khi đoàn tàu thuyền trong đêm 29 rạng 30 tháng 4, chở đầy quân, dân, đàn bà và trẻ con túa ra biển, những điều gì đã phải xẩy ra. Với hỏa lực của mấy sư đoàn địch trên bờ và mấy trăm cổ hải pháo trên các chiến hạm cùng thi nhau nhả đạn, hai con sông Lòng-Tào và Soài-Rạp chắc chắn sẽ là hai con sông kinh hoàng ngập máu, sẽ tàn khóc và rùng rợn nhiều lần hơn Đại Lộ Kinh Hoàng trong mùa hè Đỏ Lửa 1972”. (Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh)

Như vậy, Lê Đức Anh đã áp-dụng cái chiêu của dân làm ăn của Tây-phương: "Nếu anh không đánh lại họ, thì đi theo họ" ("If you cannot beat them, join them"), nghĩa là chạy theo phe chống Lê Đức Thọ. Nhưng vốn dĩ là người Tàu (xem phần "3. Việt Tân trở thành cánh tay nối dài của cha con Lê Đức Anh và Nguyễn Tấn Dũng" của bài "Một đồng đóng góp cho Việt Tân là một đồng đóng góp vào sự diệt-vong của dân-tộc Việt Nam" của Nguyễn Văn Huy trên Facebook), cho nên Lê Đức Anh đã khéo-léo giữ cho Lê Đức Thọ được an-toàn tính-mạng cho đến ngày tàn vào ngày 13/10/1990 (xem bài "Lê Đức Thọ" trên Wiki). Nếu Thọ có bề gì, Anh sẽ mang tiếng phản-chủ và đi đâu cũng bị người ta chê cười. Anh tuy bất-lương, nhưng lại có cái khôn của người Tàu mà Dương Văn Minh không có được. Minh phản Ngô Đình Diệm mà lại còn giết Diệm, do đó bị người đời khinh-bỉ.

Sau này, vào năm 2016, Nguyễn Tấn Dũng, con của Lê Đức Anh, cũng bị một cú nốc-ao (knockout) bất ngờ, văng ra khỏi Bộ Chính-trị lẫn Trung-ương-đảng, y chang như cách băng của Lê Đức Anh từng đối-xử với Lê Đức Thọ (xem bài "Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XII"). Vì Nguyễn Phú Trọng có sự ủng-hộ của Lê Đức Anh mà lên được chức Tổng-bí-thư, do đó phải giữ cho Dũng được an-toàn tính-mạng, nếu không Trọng sẽ mang tiếng ác đối với đời. Trời cho Lê Đức Anh sống đến 99 tuổi (2019) để cảm-nhận cái đau do sự quả báo dội ngược gây ra.


H.5(b)(6) Trung Cộng mua Lê Đức Anh:

Còn một vấn-đề rất quan-trọng. cần phải được giải-thích, là tại sao Lê Đức Anh lại bán đứng Lê Đức Thọ? Chuyện này không khó giải-thích: Lê Duẩn là linh-hồn của quân-đội Việt Cộng. Sau khi ảnh bị Thọ giết, vấn-đề gay cấn đối với Việt Cộng là không có ai có đủ năng-lực về quân-sự để lãnh-đạo Việt Cộng đương đầu với Trung Cộng.

Đám rợ Hồ lúc bấy giờ không ngừng quấy-nhiễu ngoài biên-thùy phía Bắc; đánh lớn thì không dám đánh, nhưng đánh nhỏ thì thừa can-đảm. Thật ra, chiến-lược của Trung Cộng lúc bấy giờ là dùng chiến-tranh biên-giới để luyện quân. Theo Thiếu-tướng Lê Duy Mật của Việt Cộng, riêng cho mặt trận Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang) vào năm 1984, Trung Cộng huy-động 9 quân-đoàn (gồm 27 sư-đoàn) để đánh nhau với hai sư-đoàn và một số trung-đoàn độc-lập của Việt Cộng (xem cái video clip "Chiến tranh biên giới Việt Trung cựu tư lệnh mặt trận ThanhThủy HàGiang 1984 p1", đăng trên Youtube ngày 15/06/2015 bởi Lee Won, từ phút 7:45 cho tới phút 8:40).

Xin mời độc-giả xem cái trích-đoạn của cái clip nói trên:







Như vậy, từ tháng 07/1986 cho tới tháng 12/1986, Trung Cộng đã chụp thời cơ bằng cách móc nối với Lê Đức Anh và Nguyễn Văn Linh để tạo cơ-hội cho Trung-ương đảng Việt Cộng hạ đài và dâng nước để chuộc tội với Bắc-triều. Lê Đức Anh là người Tàu do đó thấy có một con đường sáng trước mắt: cái công bán nước Việt Nam cho Tàu chắc-chắn được tưởng-thưởng hậu-hĩ, mà phần thưởng dĩ-nhiên là con cháu của ảnh sẽ đời đời được cho làm chủ Việt Nam.

Nguyễn Tấn Dũng, con rơi của Lê Đức Anh, được Anh đưa lên làm Thủ-tướng. Khi chiếc ghế của Dũng bị rung-rinh từ giữa năm 2015, đích-thân Tập Cận Bình qua Việt Nam để vận-động cho ảnh (xem bài "Tập Cận Bình đến Việt-Nam để thu-hoạch thành-quả của chiến-dịch Công-tâm"). Điều đó củng-cố niềm tin của những người Tàu Việt từng gia-nhập Việt Tân và khích-lệ những người Tàu Việt chưa gia-nhập.

Những chế-độ Cộng-sản thực ra là những chế-độ phong-kiến trá-hình, bởi vì những anh trùm Cộng-sản hầu-hết là vua chúa hoặc đại-quan ngày xưa đầu thai lại. Việc cha truyền, con nối là một đặc-điểm của chế-độ vua chúa. Thí-dụ như:

Mao Trạch Đông chết, truyền ngôi lại cho Hoa Quốc Phong, con rơi của Mao (xem bài "Hoa Quốc Phong – Con trai cả của Mao Trạch Đông?"). Nhưng chẳng may Hoa bị Đặng Tiểu Bình đảo chánh.

Năm 2006, Fidel Castro của xứ Cuba tưởng rằng mình sắp chết vì ung-thư, do đó ảnh nhường ngôi lại cho anh ruột.

Kim Nhật Thành (Kim Il-sung) chết, ngôi được truyền lại cho Kim Chánh Nhật (Kim Jong-il). Kim Chánh Nhật chết, ngôi được truyền lại cho Kim Chính Ân (Kim Jong Un).

Dưới đây là một trích-đoạn của cái video clip có tựa là "Psy - Gangnam style (강남스타일) Parody! Kim Jong style! | Key of Awesome #63" (đăng trên Youtube ngày 21/09/2012). Nguyễn Văn Huy phụ-đề Việt-ngữ.







H.5(b)(7) Trung Cộng mua Nguyễn Văn Linh:

Về Nguyễn Văn Linh, nhờ hai yếu-tố sau đây:

(a) ảnh bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ trấn-áp không cho lên chức trong nhiều năm trời,

(b) ảnh mau lẹ tán thành việc đầu hàng Bắc-triều do Lê Đức Anh đề-nghị,

mà chúng ta đoán ra được rằng tuy Nguyễn Văn Linh nói tiếng Việt nhưng không phải là người Việt Nam và nói không chừng điều này đã bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ khám-phá ra, do đó mới kỳ-thị ảnh thảm-thiết. Vì có gốc Tàu, Linh mới không xem việc cắt đất, biển và đảo của Việt Nam để giao cho Tàu là sự phản-quốc. Sau khi ảnh chết, con gái của ảnh, Nguyễn Thị Kim Ngân, được băng đảng của ảnh cất-nhắc lên làm Chủ-tịch Quốc-hội và lại a-dua theo những anh phản-quốc.

Trong cái video clip dưới đây, trong 4 phút đầu, người làm clip mổ-xẻ thân-thế bí-ẩn của Nguyễn Thị Kim Ngân. Trong chế-độ Việt Cộng, tin đồn trong dân-gian còn có giá-trị hơn cả tin chánh-thức của Đảng và Nhà nước. Lẽ dĩ-nhiên, người ta phải chọn-lọc tin trước khi sử-dụng nó. Có thể nói, tạm thời, những tin-tức trong cái clip có thể tin được.







Dưới đây là một trích-đoạn của cái video clip "Chương trình giao lưu 'Biên cương thắm tình hữu nghị' lần thứ 3", từ phút 0:51 cho tới phút 01:11, đăng trên Youtube ngày 26/08/2018 bởi "Truyền Hình Nhân Dân":







Vấn-đề gay cấn đối với người Việt chúng ta là người Hán đã sống lẫn-lộn với người Việt từ 300 năm qua, do đó họ nói tiếng Việt y như người Việt nhưng tâm-hồn vẫn mang đầy sự kiêu-ngạo của người Hán. Do đó, chúng ta chỉ có thể nhìn vào hành-động phản-quốc của họ mà đoán ra được rằng họ mang dòng máu Hán-tộc mà không chịu hội-nhập vào cộng-đồng người Việt.

Chí-hướng của người Hán ở Việt Nam không thể sánh được với trẻ con người Việt hải-ngoại. Từ bao nhiêu năm nay, những đứa trẻ đó đã ngoan-ngoãn hội-nhập vào các xã-hội Tây-phương và trong tương-lai sẽ có những sự đóng góp lớn đối với nền hòa-bình và thịnh vượng của thế-giới. Quan-trọng nhất là: qua những cuộc hôn-nhân giữa người Việt (và cả những sắc dân da vàng khác) với người bản-xứ, nhân-tố di-truyền (tiếng nôm-na để chỉ genes) trong dòng máu của Tây-phương sẽ được cải-tiến, rồi dẫn đến sự ra đời của giống dân phụ thứ 6 của giống dân chánh thứ 5 (dân chánh thứ 5: giống dân Aryan, gồm có người Tây-phương, Ả Rập, Ấn Độ ...). Hai cái nôi lớn nhất của giống dân phụ mới là California và hai nước Úc và Tân Tây Lan). California là trái tim của nước Mỹ (Heart centre), còn nước Úc là trái tim (Heart centre) của khối Commonwealth, tức là lốt mới của British Empire. Xin xem bài "Human Races and Evolution of the Planet".


H.6 Một số thí-dụ điển-hình về thời-vận của nhóm:

H.6(a) Nhà Mạc:

Nhà Mạc khởi-nghiệp từ lúc Mạc Đăng Dung soán ngôi (1527) cho đến lúc Mạc Kính Vũ mất đất Cao Bằng và sống lưu-vong bên Tàu (1677). Cuộc chiến giữa Trịnh và Mạc tổng-cộng 150 năm (30 năm X 5).


H.6(b) Tây Sơn khởi-nghĩa:

Trong bài viết có tựa là "Một vài phương-thuật để nghiên-cứu về Tây Sơn", đăng trên Tập-san Sử Địa số 9-10 năm 1968, Hồ Hữu Tường cho biết Nguyễn Nhạc đã âm-mưu dọn hết kho gạo của triều-đình Nguyễn ở Quy Nhơn lên núi để chuẩn-bị khởi-nghĩa. Chẳng may, có một người trong tổ-chức phản-bội và mật báo cho triều-đình. Nhạc mới giết người đó đi rồi phao tin rằng mình và người đó vì thua bạc cho nên bán hết thóc lúa trong kho gạo, vì vậy người đó báo triều-đình để đổ tội cho ảnh; nay ảnh đã giết người đó rồi trốn lên núi. Nhờ Nhạc nhận tội một mình mà những người khác trong tổ-chức không bị mang tội phản-nghịch (xem những trang 188-190)



Trang 189, Tập-san Sử Địa 9-10



Ngoài ra, Hồ Hữu Tường còn cho biết Nguyễn Lữ chế ra cây cờ nền đỏ tròng mặt trời vàng để thuyết-phục người Thượng theo Tây Sơn. Cách giải-thích của Hồ Hữu Tường trong trang 188 của Tập-san Sử Địa số 9-10 dưới đây không chính-xác, vì lực-lượng của người Thượng rất yếu và do đó không thể đáp-ứng nhu-cầu bành-trướng và chinh-phục của Tây Sơn. Nguyễn Huệ là người có tầm nhìn xa, do đó sẽ không quan-tâm đến việc mua-chuộc cảm-tình nhỏ-nhặt mà làm hại chí tiến-thủ của ảnh. Nói cho đúng, từ ngàn xưa các dân-tộc Bách Việt thờ mặt trời như là tôn-giáo chánh (xem bài "Trống đồng" trên Wiki). Do đó, Tây Sơn chọn cờ mặt trời để tượng-trưng cho lý-tưởng dân-tộc.



Trang 188, Tập-san Sử Địa 9-10



Hình minh-họa của cờ Tây Sơn


(Hình trên được trích từ bài "Nhà Tây Sơn" của Wiki)


Tây Sơn khởi-nghĩa vào năm 1771. Đến năm 1801, Nguyễn Ánh lấy lại Phú Xuân rồi giải-quyết tàn-cuộc. Tây Sơn hoàn-toàn bị diệt vào năm 1802. Nhóm Tây Sơn tồn-tại trong 31 năm.


H.6(c) Việt Cộng:

Đảng Cộng-sản Việt Nam cướp chính-quyền của Bảo Đại vào năm 1945, rồi đánh nhau với Pháp, Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ. Cho tới năm 1975, Việt Cộng hoàn-toàn làm chủ Việt Nam. Giai-đoạn này có thể được gọi là giai-đoạn cướp nước và kéo dài 30 năm (1945-1975).

Từ năm 1975 cho tới 2005, Việt Cộng gắng sức thực-hiện kinh-tế chủ-nghĩa. Nhưng dù cho đảng Cộng-sản Việt Nam, tức là cái "đỉnh cao trí-tuệ của loài người" (danh-xưng mới của Việt Cộng qua các biểu-ngữ (banners) giăng đầy các đường-phố ở Sài Gòn sau năm 1975), áp-dụng bất-cứ chánh-sách kinh-tế xã-hội chủ-nghĩa nào đi nữa, đất nước nghèo vẫn hoàn nghèo . Do đó, cuối-cùng Việt Cộng đành phải vất bỏ kinh-tế chủ-nghĩa xã-hội và triệt-để áp-dụng kinh-tế tư-bản chủ-nghĩa (thường được gọi là kinh-tế thị-trường (market economy)). Theo lý-thuyết của chủ-nghĩa Mác Lê-Nin, cơ-cấu kinh-tế quyết-định cơ-cấu chính-trị. Do đó, hiện nay, có thể nói chế-độ chính-trị Cộng-sản đã bị diệt và thiên-đường xã-hội chủ-nghĩa đã trở thành quá-khứ. Cái chế-độ chính-trị hiện nay chẳng qua là một loại zombie (quỷ nhập-tràng) , nghĩa là xác chết biết đi, và nên được đem đi hỏa-thiêu. Giai-đoạn này có thể được gọi là giai-đoạn phá nước và kéo dài 30 năm (1975-2005).

Từ năm 2005, cuộc đình-công qui-mô nhất của công-nhân Việt Nam xảy ra lần đầu-tiên tại một công-ty lớn ở Sài Gòn (xem bài "Đình công lớn nhất từ trước đến nay ở TPHCM" đăng trên báo Tiền Phong của Việt Cộng vào ngày 29/12/2005). Đây là dấu hiệu đầu-tiên của sự lớn mạnh của phong-trào dân-chủ của nhân-dân Việt Nam, sau 30 năm sống trong sự kìm-kẹp của Việt Cộng. Từ lúc đó, người dân đã bắt đầu dám đấu-tranh chống lại cái thế-lực phản-động sừng-sỏ luôn-luôn tìm cách ngăn-cản quyền làm chủ đất nước của nhân-dân Việt Nam. Thế-lực đó không ai khác hơn là đảng Cộng-sản Việt Nam.

Mở đầu giai-đoạn 2 (2015-2025) của thời-vận 30 năm (2005-2035), từ giữa năm 2015 sự truất-phế Thủ-tướng Nguyễn Tấn Dũng - một anh Tàu Việt đang nối bước cha là Chủ-tịch nước Lê Đức Anh trong việc làm tay sai cho Trung Cộng - ra khỏi Trung-ương đảng của Việt Cộng dường như trở thành điều chắc-chắn. Do đó, Nguyễn Tấn Dũng chuyển hơn 5 tỷ đô Mỹ (tiền tham nhũng) ra hải-ngoại. Từ đó, Việt Tân, một đảng phái nằm trong sự khống-chế của Nguyễn Tấn Dũng và Trung Cộng, có tiền để thao-túng bộ máy tuyên-truyền ở hải-ngoại nhằm chống-phá chế-độ Cộng-sản Việt Nam của Nguyễn Phú Trọng. Ngoài ra, Tập Cận Bình qua Việt Nam vào đầu tháng 11/2015 để dọa nạt Việt Cộng và ép buộc họ duy-trì Nguyễn Tấn Dũng.

Tuy nhiên, Nguyễn Tấn Dũng vẫn bị mất chức Thủ-tướng và còn bị trục-xuất khỏi Trung-ương đảng vào đầu năm 2016 (xem bài viết "Tập Cận Bình đến Việt Nam để thu hoạch thành quả của chiến dịch Công-tâm" của Nguyễn Văn Huy). Như vậy, nhân-dân Việt Nam bắt đầu thể hiện ý-chí của mình như là người chủ đất nước, qua ảnh-hưởng của thế-hệ trẻ người Việt đã lọt vào Trung-ương đảng của Việt Cộng.

Sau này, vào ngày 10/06/2018, một lần nữa, nhân-dân Việt Nam đã xác-định được sức mạnh của người chủ đất nước qua những cuộc biểu-tình long trời, lở đất, xảy ra khắp nước, nhằm chống Luật đặc-khu kinh-tế và luật An-ninh mạng. Thế là âm-mưu chiếm đất theo kiểu "tầm ăn dâu" của Trung Cộng đã bị nhân-dân Việt Nam đập tan. Vì Nguyễn Phú Trọng có sự hiểu-biết kém-cỏi về kinh-tế, ảnh luôn luôn nhắm mắt tin theo những kế-hoạch kinh-tế lếu-láo của anh Trung Cộng nằm vùng Vương Đình Huệ (Trưởng-ban Kinh-tế đảng kiêm Phó thủ-tướng Việt Cộng). Trung Cộng khai-thác nhược-điểm này để tìm cách nắm ba địa-điểm chiến-lược cho việc xâm-lăng Việt Nam sau này. Ở Úc, những chính-quyền liên-bang và tiểu-bang, do sự tham-nhũng và thối-nát, đã bị Trung Cộng nằm vùng mua chuộc, do đó cũng đã bán những cảng Darwin, New Castlevà Melbourne cho thời-hạn 99 năm. Không chừng Nguyễn Phú Trọng nghĩ rằng người Úc giỏi kinh-tế mà vẫn bán những hải-cảng quan-trọng tức là không có vấn-đề. Đừng quên rằng những anh chính-trị gia thối nát đó dựa vào sự bảo-hộ về quân-sự của Mỹ, tức là tuy vừa ngu vừa tham nhưng vẫn còn tìm được lý-do để chống-chế. Trong khi đó, Việt Nam có ai bảo-hộ về quân-sự hay không?

Trong bài báo "Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ: Đặc khu có tính chất và nhiệm vụ đặc biệt nên cán bộ cũng phải đặc biệt", đăng trên báo mạng Trí Thức Trẻ Việt Nam vào ngày 06/06/2018, có những đoạn văn như sau:

"Đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) lại yêu cầu Phó Thủ tướng phân tích, đánh giá về mức độ phát triển của 3 đặc khu sẽ tác động như thế nào với địa phương, vùng lập đặc khu. Bên cạnh đó, ông cũng đặt câu hỏi cho Phó Thủ tướng về vấn đề an ninh quốc phòng, toàn vẹn lãnh thổ đất nướctheo thời gian 10 năm, 100 năm và lâu hơn nữa.

"Phó Thủ tướng cũng khẳng định việc ra đời của 3 đặc khu cũng không ảnh hưởng đến sự phát triển của Hà Nội và TP. HCM – là hai đầu tàu động lực kinh tế của cả nước và 7 vùng kinh tế động lực khác.

"Hà Nội và TP.HCM bao giờ vẫn là đầu tàu, động lực của cả nước dù có đặc khu hay không. 7 vùng kinh tế trọng điểm vẫn tiếp tục được tập trung cơ chế chính sách, phát huy thế mạnh của các vùng này, làm lan tỏa các địa phương và vùng khác. Việc ra đời các đặc khu kinh tế không ảnh hưởng quan điểm phát triển, nguồn lực trung ương, địa phương tới 2 đầu tàu và 7 vùng trọng điểm này", ông Huệ nói.

"Tuy nhiên, đại biểu Anh Trí không hài lòng với câu trả lời này và giơ biển xin tranh luận tiếp. Nhắc lại câu hỏi của mình, ông yêu cầu Phó Thủ tướng đưa ra một vài phát thảo về phát triển kinh tế xã hội tại 3 đặc khu cùng mối quan hệ tương quan với an ninh quốc phòng theo thời gian.

"Trước chất vấn này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết Quốc hội đang bàn bạc về dự thảo Luật, nên để có câu trả lời cần phải có nghiên cứu chặt chẽ hơn.

"Xin đại biểu cho phép Phó thủ tướng trả lời bằng văn bản", bà Nguyễn Thị Kim Ngân nói."

Dưới đây là một trích-đoạn của cái video clip "MỚI ! Chất vấn PTT Vương Đình Huệ về dự luật đặc khu kinh tế sắp tới", đăng trên Youtube vào ngày 08/06/2018 bởi Tin Tức Việt , từ phút 08:42 cho tới phút 09:54.







Qua những thông-tin ở trên, hiển-nhiên Vương Đình Huệ chính là kiến-trúc-sư của Luật Đặc-khu. Nguyễn Thị Kim Ngân đã giúp cho Huệ khỏi phải trả lời câu hỏi của Nguyễn Anh Trí về "vấn đề an ninh quốc phòng, toàn vẹn lãnh thổ đất nước." Vương Đình Huệ mang tâm quỷ trong lòng, do đó không thể trả lời câu hỏi của Trí. Còn Nguyễn Thị Kim Ngân là đồng-đảng với Huệ. Nên nhớ cha của Ngân, cựu Tổng-bí-thư Nguyễn Văn Linh, chính là người dâng đất, biển và đảo cho Trung Cộng qua những hiệp-ước bất-bình-đẳng. Cả hai không thể ngờ được thường ngày những anh đại-biểu quốc-hội chỉ biết ngủ gà, ngủ gật và biểu-quyết đồng-thuận với đảng, nhưng tới giờ phút quan-trọng của kế-hoạch dâng thêm ba cái đảo cho Trung Cộng thì anh Nguyễn Anh Trí nhảy ra làm khó. Nuôi quân ba năm, mà không thể dụng quân được chỉ một ngày, tức ơi là tức .

May mắn cho Nguyễn Phú Trọng, mùa đá banh do FIFA tổ-chức cũng vừa xảy ra đúng lúc, làm loãng sự chú-ý của dân miền Nam đối với vấn-đề chính-trị, nếu không, vào lúc này, không chừng chế-độ Cộng-sản đã rơi vào tay Nguyễn Tấn Dũng một lần nữa rồi. Bên trong có nội-gian vẽ ra chánh-sách kinh-tế với ý-đồ làm khích-động lòng ái-quốc của nhân-dân một cách dữ-dội, còn bên ngoài có Việt Tân đổ thêm dầu vào lửa, thì đáng lẽ ra sự-nghiệp chính-trị của Nguyễn Phú Trọng đã xong . May mà Trời cứu ảnh.

Trước đó, ban Tuyên-giáo của Võ Văn Thưởng, một anh Trung Cộng nằm vùng khác (xem phần "C. Mối quan-hệ giữa Trưởng ban Tuyên-giáo Võ Văn Thưởng và Việt Tân" của bài viết "(88) Tổ-chức Yểm-trợ Nhân-quyền và Trung-tâm Văn-học Tiền-vệ làm tốt Nghị-quyết 36 - Lễ phát giải thưởng Văn-chương Tự-do và Âm-nhạc Tự-do 2017"), đã tìm cách ngăn-chận không cho các đài truyền-hình Việt Cộng mua bản quyền trực-tiếp truyền-hình các trận đấu của FIFA (xem bài "VTV: 'Không mua bản quyền truyền hình World Cup 2018 bằng mọi giá'", đăng trên vietnamnet.vn vào ngày 05/06/2018). Âm-mưu của các anh Trung Cộng nằm vùng chu-đáo thì thôi .

Độc-giả sẽ nhìn thấy một Việt Nam phi-Cộng-sản, thịnh-vượng và có một vị-thế quốc-tế xứng-đáng trước khi thời-kỳ 30 năm (2005-2035) chấm-dứt. Tuy nhiên, độc-giả không cần phải đợi quá lâu. Từ năm 2025 (sang giai-đoạn 3 của thời-kỳ 30 năm), sự tái-xuất-hiện của đấng Christ - vị Phật mới từng được giới-thiệu bởi Đức Phật Thích Ca vào khoảng 2600 năm trước - và những sự thay-đổi chính-trị quốc-nội và quốc-ngoại lúc bấy giờ sẽ khẳng-định bàn tay của Thiên-cơ đối với vận-mạng của dân-tộc .

Đời sống của dân tộc vượt quá đời người, do đó độc-giả nên cố gắng sống thọ một chút để nhìn sự đổi thay của lịch-sử .


H.6(d) Trung Cộng:

Sau khi Đệ Nhất Thế-chiến chấm-dứt, hội-nghị Versailles được mở ra ở Paris vào ngày 18/01/1919 để giải-quyết tàn-cuộc. Phe thắng cuộc (Đồng Minh) dự-tính lấy thuộc-địa của Đức ở Sơn Đông giao lại cho Pháp. Sinh-viên Tàu ở đại-học Bắc Kinh nóng mặt. Đáng lẽ Đức thua trận rồi thì đất của Tàu phải được trả lại cho Tàu, đằng này các đế-quốc lại coi như Tàu đã mất đất về tay Đức luôn rồi và đem ra chia-chác với nhau. Sinh-viên đại-học Bắc Kinh bèn tổ-chức biểu-tình phản-đối (xem bài "Chinese students protest the Treaty of Versailles (the May Fourth Incident), 1919"). Cuộc biểu-tình được dân Tàu ở Bắc Kinh và các tỉnh khác hưởng-ứng nhiệt-liệt. Chỉ trong vài tháng, khắp nước Tàu đều có biểu-tình. Vì lòng tự-ái của dân Tàu bị tổn-thương, phong-trào chống-đối các đế-quốc nổi lên càng lúc càng mạnh. Đệ Tam Quốc Tế bèn gởi người qua Tàu để xách-động quần-chúng tham-gia phong-trào Cộng-sản. Kết-quả của sự nhúng tay của Đệ Tam Quốc Tế là sự thành-lập đảng Cộng-sản Tàu qua cuộc đại-hội tại Thượng Hải từ ngày 23/07/1921 cho tới ngày 02/08/1921 (xem bài "History of the Communist Party of China"). Trong những năm sau đó, Quốc-dân-đảng của Tưởng Giới Thạch và Cộng-sản-đảng của Mao Trạch Đông đánh nhau chí-chóe. Cuối cùng Cộng-sản toàn thắng và làm chủ nước Tàu vào năm 1949. Tính từ lúc phong-trào "phản đế, bài phong" nổi lên cho đến lúc đó, thời-gian là 30 năm, Dưới sự cai-trị của Cộng-sản, nước Tàu càng ngày càng nghèo đói. Ba chục năm sau, năm 1979, sau khi Trung Cộng bị Việt Cộng đánh bại trong cuộc chiến biên-giới, Đặng Tiểu Bình quyết-định canh-tân nước Tàu bằng cách vất bỏ kinh-tế xã-hội chủ-nghĩa và áp-dụng kinh-tế tư-bản chủ-nghĩa.

Ba chục năm sau, vào ngày 18/09/2009, Đại-hội đảng của Cộng-sản Tàu chọn Tập Cận Bình làm người lãnh-đạo mới của đảng - sẽ đăng-quang từ năm 2012 (xem bài "Ông Tập Cận Bình là ai?", đăng trên bbc.com vào ngày 21/09/2009). Từ năm nay (2018) trở đi, chẳng chóng thì chầy Trung Cộng sẽ cùng với Nga phát-động Thế-chiến Thứ Ba. Vào năm 2019, Trung Cộng sẽ tiến vào vận nhỏ 10 năm. Trong giai-đoạn đầu của chiến-tranh, Mỹ và Âu-châu sẽ bị đánh "sụm bà chè". Nhưng đến năm 2025, chiến-tranh mới chấm-dứt. Lúc đó, khối Nga-Tàu lại thua trận, thế mới kỳ ! Do đó, nước Tàu trong vận nhỏ 2029-2039 chắc-chắn sẽ không còn bị Cộng-sản cai-trị nữa.


Nguyễn Văn Huy

(Đăng trên Facebook vào ngày 11/10/2017, trên Blog Nguyễn Văn Huy vào ngày 04/01/2019, cập-nhật vào ngày 17/01/2020)


Những bài gốc ở Facebook:


Mục-lục của loạt bài này:







Mục-lục những bài viết của Nguyễn Văn Huy từ Facebook chuyển qua